Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động và bảo hiểm xã hội
Ngày đăng: 15/09/2026 17:18
Hôm nay: 0
Hôm qua: 0
Trong tuần: 0
Tất cả: 0
Ngày đăng: 15/09/2026 17:18
Từ ngày 10/9/2026, Nghị định số 283/2026/NĐ-CP ngày 15/7/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng chính thức có hiệu lực và thay thế Nghị định số 12/2022/NĐ-CP ngày 17/01/2022 của Chính phủ. Nghị định quy định cụ thể nhiều hành vi vi phạm liên quan đến tuyển dụng, tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, sử dụng lao động chưa thành niên, chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc... Người sử dụng lao động và người lao động cần chủ động nắm bắt để thực hiện đúng quy định, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ lao động.

Nghị định số 283/2026/NĐ-CP ngày 15/7/2026 của Chính phủ, gồm 06 chương, 68 điều, quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức và mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản, thẩm quyền xử phạt và việc thi hành các hình thức xử phạt trong 03 nhóm lĩnh vực chính: lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Theo đó, Nghị định số 283/2026/NĐ-CP quy định nhiều nội dung trọng tâm như sau:
Một là, tăng cường xử lý hành vi chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị định số 283/2026/NĐ-CP là quy định cụ thể chế tài đối với hành vi chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, nhằm bảo vệ quyền lợi an sinh lâu dài của người lao động. Đối với hành vi chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, trường hợp thuộc diện xử phạt bằng tiền, mức phạt đối với việc không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể từ 05 triệu đồng đến 75 triệu đồng, tùy theo số lượng người lao động bị vi phạm. Đối với hành vi chậm đóng số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc, mức phạt bằng 12% đến 15% tổng số tiền chậm đóng tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính, nhưng tối đa không quá 75 triệu đồng.
Đối với hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, trường hợp không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người thuộc diện tham gia sau thời hạn theo quy định, mức phạt có thể từ 06 triệu đồng đến 75 triệu đồng, tùy số lượng người lao động bị vi phạm. Trường hợp đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp hơn quy định hoặc không đóng, đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký sau thời hạn luật định và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, mức phạt bằng 18% đến 20% tổng số tiền trốn đóng, nhưng tối đa không quá 75 triệu đồng.
Ngoài bị xử phạt, người sử dụng lao động còn bị buộc đăng ký đầy đủ người lao động thuộc diện tham gia, đóng đủ số tiền chậm đóng hoặc trốn đóng và nộp thêm số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền và số ngày chậm đóng, trốn đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.
Hai là, vi phạm quy định về tiền lương có thể bị phạt đến 75 triệu đồng
Nghị định quy định phạt từ 05 triệu đồng đến 10 triệu đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi như: không công bố công khai tại nơi làm việc thang lương, bảng lương, mức lao động, quy chế thưởng; không xây dựng thang lương, bảng lương hoặc định mức lao động; không thông báo bảng kê trả lương cho người lao động theo quy định; không bảo đảm nguyên tắc trả lương bình đẳng, có sự phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau.
Đối với các hành vi như trả lương không đúng hạn; không trả hoặc trả không đủ tiền lương theo hợp đồng lao động; không trả đủ tiền làm thêm giờ, làm việc ban đêm; khấu trừ tiền lương không đúng quy định, mức phạt từ 05 triệu đồng đến 50 triệu đồng, tùy số lượng người lao động bị vi phạm.
Đáng chú ý, trường hợp trả lương cho người lao động thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định, người sử dụng lao động có thể bị phạt từ 20 triệu đồng đến 75 triệu đồng, tùy số người lao động bị vi phạm. Đồng thời, người sử dụng lao động bị buộc trả đủ tiền lương cùng khoản tiền lãi của số tiền lương chậm trả hoặc trả thiếu cho người lao động theo quy định.
Ba là, xử phạt các vi phạm về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Đối với vi phạm về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, Nghị định quy định phạt từ 02 triệu đồng đến 05 triệu đồng nếu người sử dụng lao động không bảo đảm cho người lao động nghỉ việc riêng hoặc nghỉ không hưởng lương theo quy định; không thực hiện việc thông báo bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền khi tổ chức làm thêm giờ từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm theo quy định.
Hành vi vi phạm quy định về nghỉ hằng tuần, nghỉ hằng năm hoặc nghỉ lễ, tết bị phạt từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng. Trường hợp bố trí thời giờ làm việc bình thường vượt quá số giờ luật định hoặc huy động người lao động làm thêm giờ mà không có sự đồng ý của người lao động, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, mức phạt từ 20 triệu đồng đến 25 triệu đồng.
Đối với hành vi không bảo đảm thời gian nghỉ trong giờ làm việc, nghỉ chuyển ca hoặc huy động người lao động làm thêm vượt quá số giờ được pháp luật cho phép, mức phạt được xác định theo số lượng người lao động bị vi phạm và có thể lên đến 75 triệu đồng.
Bốn là, phạt đến 75 triệu đồng đối với hành vi lừa gạt người lao động trong tuyển dụng
Nhằm tăng cường bảo vệ người lao động trước các hành vi tuyển dụng không minh bạch, Nghị định quy định phạt từ 01 triệu đồng đến 03 triệu đồng đối với một số hành vi như thu tiền của người lao động khi tham gia tuyển dụng; không khai trình việc sử dụng lao động; không cập nhật đầy đủ thông tin vào sổ quản lý lao động hoặc không xuất trình sổ khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.
Đặc biệt, hành vi lôi kéo, dụ dỗ, hứa hẹn, quảng cáo gian dối hoặc sử dụng thủ đoạn khác để lừa gạt người lao động; tuyển dụng người lao động nhằm mục đích bóc lột, cưỡng bức lao động, nếu chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, có thể bị phạt từ 50 triệu đồng đến 75 triệu đồng. Người sử dụng lao động còn bị buộc hoàn trả cho người lao động các khoản tiền đã thu trái quy định.
Năm là, xử lý nghiêm hành vi mua bán, chiếm đoạt trái phép dữ liệu người lao động
Một nội dung mới đáng lưu ý trong bối cảnh quản lý lao động ngày càng được số hóa là chế tài đối với việc khai thác, sử dụng trái phép thông tin, dữ liệu về người lao động và thị trường lao động. Theo đó, hành vi khai thác, chia sẻ, sử dụng trái phép thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về người lao động và thông tin thị trường lao động chưa được cơ quan có thẩm quyền công bố có thể bị phạt từ 20 triệu đồng đến 40 triệu đồng nếu chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với hành vi mua bán, trao đổi, chiếm đoạt trái phép thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về người lao động và thông tin thị trường lao động chưa được công bố, mức phạt có thể từ 50 triệu đồng đến 70 triệu đồng.
Sáu là, tăng cường bảo vệ lao động chưa thành niên
Nghị định cũng tiếp tục quy định chặt chẽ trách nhiệm của người sử dụng lao động khi sử dụng người chưa thành niên. Việc không lập sổ theo dõi riêng hoặc lập nhưng không ghi đầy đủ nội dung theo quy định khi sử dụng lao động chưa thành niên có thể bị phạt từ 01 triệu đồng đến 02 triệu đồng.
Mức phạt từ 20 triệu đồng đến 25 triệu đồng được áp dụng đối với một số hành vi như sử dụng lao động chưa thành niên mà chưa có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ; sử dụng người chưa đủ 15 tuổi mà không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản theo quy định, bố trí thời gian làm việc ảnh hưởng đến việc học tập hoặc không bảo đảm các yêu cầu về sức khỏe, điều kiện làm việc, an toàn, vệ sinh lao động phù hợp với lứa tuổi.
Người sử dụng lao động cần chủ động rà soát việc ký kết và thực hiện hợp đồng lao động, chế độ tiền lương, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi, việc đăng ký và đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, quy trình tuyển dụng và quản lý thông tin người lao động; kịp thời khắc phục các tồn tại, hạn chế. Người lao động cũng cần thường xuyên theo dõi quá trình tham gia bảo hiểm xã hội, nắm rõ các quyền về tiền lương, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi và các chế độ liên quan để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Ngọc Trâm