Toàn văn bài tham luận của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh về “Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn Đắk Lắk khi triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp”
Ngày đăng: 27/05/2026 17:55
Hôm nay: 0
Hôm qua: 0
Trong tuần: 0
Tất cả: 0
Ngày đăng: 27/05/2026 17:55
Bài đọc:
Tại Hội thảo khoa học cấp tỉnh do Trường Chính trị tỉnh Đắk Lắk tổ chức sáng ngày 27/5/2026 với chủ đề: “Tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở tỉnh Đắk Lắk theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp”, đồng chí Nguyễn Thị Thu Nguyệt, Tỉnh ủy viên, Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh chuyên tráchđã tham gia phát biểu tham luận về nội dung “Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn Đắk Lắk khi triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp”.

Sau hợp nhất, tỉnh Đắk Lắk bước vào không gian rộng lớn hơn, với diện tích 18.096,40 km², dân số 3,34 triệu người, 45 dân tộc dân tộc cùng sinh sống. Toàn tỉnh có 102 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 88 xã và 14 phường, 2801 thôn, buôn, tổ dân phố. Là tỉnh có diện tích lớn thứ 3 trong cả nước, địa bàn rộng, khoảng cách địa lý xa, điều kiện hạ tầng còn nhiều hạn chế đã đặt ra nhiều thách thức và áp lực lớn đối với bộ máy chính quyền 2 cấp. Song, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, bộ máy chính quyền địa phương hai cấp của tỉnh đã được tổ chức sắp xếp theo hướng tinh gọn. Các cấp chính quyền đã khẩn trương chỉ đạo, điều hành tập trung vào những vấn đề trọng tâm, cốt lõi, cấp bách để ổn định tình hình, vận hành bộ máy sau sắp xếp một cách thông suốt, hiệu quả nhất thông qua việc đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số, thực hiện mạnh mẽ phân cấp, phân quyền; sửa đổi, bổ sung các văn bản QPPL theo thẩm quyền, tạo hành lang pháp lý duy trì, vận hành bộ máy chính quyền, nâng cao năng lực quản trị nền hành chính hiện đại; tăng cường việc quản lý và sử dụng, bố trí biên chế, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển cán bộ, công chức phù hợp với yêu cầu vận hành của bộ máy mới; tổ chức các đoàn công tác đi cơ sở kiểm tra, hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn cho địa phương, mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng năng cao nâng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã; bố trí, sắp xếp tài sản công, cơ sở vật chất, nhà ở, trang thiết bị phục vụ cho cán bộ, công chức nhận nhiệm vụ công tác của các cơ quan, đơn vị, nhất là cấp xã; xúc tiến thành lập các Trung tâm phục vụ hành chính công, Trung tâm cung ứng dịch vụ công để từng bước đáp ứng yêu cầu giải quyết thủ tục hành chính ở cơ sở cũng như nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Có thể thấy rằng, chỉ trong thời gian ngắn, việc sắp xếp, vận hành bộ máy chính quyền 2 cấp trên địa bàn tỉnh đã mang lại nhiều tác động tích cực đến đời sống Nhân dân và doanh nghiệp, được đa số quần chúng nhân dân tin tưởng, đồng thuận và ủng hộ. Tuy nhiên, từ thực tiễn triển khai địa phương, Đoàn ĐBQH tỉnh nhận thấy còn một số vấn đề đang nổi lên cần đặc biệt quan tâm, đó là:
Thứ nhất, áp lực quá lớn dồn về cấp cơ sở (xã/phường) trong khi chính sách, chế độ cho đội ngũ cán bộ, công chức chưa tương xứng
Sau khi kết thúc hoạt động cấp huyện, nhiều nhiệm vụ được chuyển giao trực tiếp về cấp xã (khoảng 1060 nhiệm vụ) trong khi tổ chức bộ máy chưa thiết kế tương xứng với khối lượng công việc mới, cụ thể: số lượng phòng chuyên môn ít, biên chế được tinh gọn, cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực dẫn đến tình trạng phòng chuyên môn quá tải khối lượng công việc; một số phòng chuyên môn vừa tham mưu, vừa thẩm định, vừa tổ chức thực hiện tiềm ẩn nhiều rủi ro trong quản lý.
Thực tế cho thấy, cấp xã hiện không chỉ thực hiện chức năng hành chính cơ sở như trước đây mà đang từng bước trở thành cấp quản trị trực tiếp, toàn diện; cũng là cấp tổ chức, thực hiện mọi chủ trương của Đảng, chính sách - Pháp luật của Nhà nước, trong khi đó, chế độ chính sách, điều kiện làm việc của đội ngũ cán bộ cấp xã nhất là các xã ở vùng đồng bào DTTS, vùng đặc biệt khó khăn còn nhiều thiếu thốn, khó khăn; thu nhập bình quân của 01 CBCC cấp xã hiện nay còn thấp so với khối lượng nhiệm vụ và trách nhiệm pháp lý đặt ra. Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến động lực, tâm lý và chất lượng thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ cơ sở.
Thứ hai, thực hiện nhiệm vụ phân cấp, phân quyền vẫn chưa đồng bộ, thiếu nguồn lực hỗ trợ
Một trong những yêu cầu cốt lõi của bộ máy chính quyền 2 cấp là tăng tính chủ động cho cơ sở. Mặc dù, tỉnh ta đã hết sức quan tâm đến việc phân cấp, phân quyền: tiến hành phân cấp, ủy quyền các nhiệm vụ thuộc các lĩnh vực cho cấp xã, ủy quyền các nhiệm vụ thuộc thẩm quyền UBND tỉnh cho các Sở ngành. Tuy nhiên một số lĩnh vực được phân cấp cho cơ sở như: đầu tư công, tài nguyên môi trường, xây dựng, quy hoạch, xử lý tài sản công dôi dư…trong nhiều trường hợp mới chỉ dừng ở việc chuyển giao nhiệm vụ mà chưa được cụ thể hóa bằng quy định, hướng dẫn cụ thể của các sở, ngành, chưa đi kèm nguồn lực, hạ tầng, thiếu cơ chế cơ chế ủy quyền, cơ chế phối hợp liên ngành trong một số nhiệm vụ phức tạp, dẫn đến tình trạng cấp xã quá tải trong thực thi công vụ; lúng túng trong xử lý hồ sơ, vừa làm vừa dò quy định, vừa sợ sai, vừa sợ trách nhiệm.... Điều này đặt ra yêu cầu: Phân cấp phải đi đôi với hướng dẫn cụ thể, nguồn lực tương ứng và cơ chế kiểm tra, hỗ trợ rõ ràng.
Thứ ba, Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu quản trị trong bối cảnh mới
Việc bố trí cán bộ, công chức ở các phòng chuyên môn chưa phù hợp với vị trí việc làm, năng lực chuyên môn, thậm chí có phòng văn xã với 8 biên chế nhưng không có công chức có chuyên môn trong lĩnh vực này. Hầu như các địa phương đều thiếu cán bộ có chuyên môn sâu về công nghệ thông tin, tài chính, xây dựng, quản lý dữ liệu hay chuyển đổi số. Một số đồng chí lãnh đạo chủ chốt cấp xã nhưng chưa qua việc đảm nhận các vị trí trọng trách trong bộ máy chính quyền cấp huyện trước đây nên gặp nhiều lúng túng trong quản trị hành chính cũng như phương pháp giải quyết tình huống.
Trình độ năng lực chuyên môn và kỹ năng giải quyết vấn đề giữa cán bộ cấp tỉnh và cán bộ cấp xã còn khá chênh lệch, khoảng cách xa. Trong khi mô hình mới trọng tâm vào quản trị cơ sở thì đội ngũ cán bộ cấp xã vẫn đang trong quá trình thích ứng. Đây là vấn đề cần được nhìn nhận nghiêm túc.
Thứ tư, hạ tầng công nghệ thông tin và điều kiện chuyển đổi số chưa đồng bộ; khả năng tiếp cận của người dân còn hạn chế
Hệ thống dữ liệu còn phân tán, kết nối chưa thông suốt; trang thiết bị công nghệ ở cơ sở hầu như còn thiếu và xuống cấp; nhân lực công nghệ chủ yếu là kiêm nhiệm, đặc biệt các xã thuộc vùng đồng bào DTTS, vùng khó khăn thì chất lượng hạ tầng số còn rất hạn chế ảnh hưởng đến việc triển khai dịch vụ công trực tuyến và chính quyền số. Đối với khu vực nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số: kỹ năng sử dụng công nghệ còn hạn chế, người dân chủ yếu vẫn cần hỗ trợ trực tiếp tại Trung tâm Phục vụ hành chính công. Điều này cho thấy chuyển đổi số trong chính quyền 2 cấp không thể chỉ tập trung vào hạ tầng, mà cần đồng thời nâng cao năng lực số cho người dân.
Từ những vấn đề thực tiễn nêu trên, Đoàn ĐBQH xin đề xuất một số kiến nghị và giải pháp sau:
Thứ nhất, đề nghị Chính phủ quan tâm đến chế độ, chính sách và phụ cấp đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đặc biệt là cấp xã, bảo đảm tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Nâng hệ số phụ cấp cho cán bộ cấp xã; có cơ chế chính sách đặc thù đối với vùng đồng bào DTTS và miền núi; có chính sách, cơ chế linh hoạt trong thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao về cơ sở. UBND tỉnh cần bố trí nguồn lực tạo điều kiện, phương tiện làm việc, cơ sở vật chất phù hợp cho cơ sở nhất là các xã khó khăn. Nếu chỉ giao thêm việc mà không điều chỉnh phụ cấp và cơ chế bảo vệ cán bộ sẽ dẫn đến quá tải, sai sót, tâm lý e ngại trách nhiệm, thậm chí làm giảm chất lượng phục vụ nhân dân. Cải cách bộ máy không thể thành công nếu người vận hành bộ máy bị bỏ lại phía sau.
Thứ hai, xây dựng đội ngũ CBCC đáp ứng yêu cầu quản trị hiện đại
Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng quản trị hiện đại, kỹ năng số và năng lực xử lý công việc cho đội ngũ cán bộ cấp xã, từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, có trách nhiệm, thay đổi tư duy từ quản lý hành chính sang tư duy phục vụ, kiến tạo phát triển.
Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện thể chế để phân quyền thực chất, việc phân cấp, phân quyền phải đi đôi với nguồn lực, cơ chế phối hợp rõ ràng; cơ chế chia sẻ thông tin, kiểm tra, giám sát. Cắt giảm chế độ báo cáo, văn bản hành chính không cần thiết trong thực thi công vụ để cán bộ tập trung thực hiện nhiệm vụ phục vụ. Tăng cường công tác hướng dẫn chuyên môn của chính quyền cấp tỉnh, các Sở ngành kịp thời tháo gỡ các vướng mắc thực tế phát sinh tại địa phương.
Thứ tư, đẩy mạnh xây dựng chính quyền số, chuyển đổi số đồng bộ; đầu tư cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin đến tận thôn buôn, bảo đảm liên thông hệ thống dịch vụ công trực tuyến trong toàn tỉnh. Hoàn thiện, nâng cấp hệ thống phần mềm, dữ liệu liên thông, đảm bảo phần mềm kết nối thông suốt từ tỉnh đến xã, thực hiện số hóa 100% hồ sơ; thường xuyên cập nhật, bồi dưỡng, phổ cập công nghệ thông tin, chuyển đổi số cho đội ngũ cán bộ cấp xã, thôn buôn và đến rộng rãi trong cộng đồng dân cư.
Thực tiễn bước đầu triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp tại tỉnh Đắk Lắk cho thấy nhiều vấn đề khó khăn, bất cập phát sinh. Đó không chỉ là vấn đề đơn lẻ của một tỉnh mà còn là vấn đề bao trùm của nhiều địa phương trong cả nước cần có hệ thống đồng bộ các giải pháp tháo gỡ để bộ máy chính quyền 2 cấp phát huy hiệu quả, góp phần xây dựng nền hành chính hiện đại, phục vụ nhân dân, thúc đẩy phát triển tỉnh Đắk Lắk nhanh, bền vững, văn minh, bản sắc.
Kim Oanh