Mở rộng cơ chế đặc thù cho các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm trên cả nước
Ngày đăng: 12/08/2026 15:38
Hôm nay: 0
Hôm qua: 0
Trong tuần: 0
Tất cả: 0
Ngày đăng: 12/08/2026 15:38
Tiếp tục Chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng ngày 12/8/2026, tham gia thảo luận tại hội trường về dự thảo Nghị quyết về chủ trương đầu tư Dự án đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội, đại biểu Lê Đào An Xuân, Tỉnh ủy viên, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk đã bày tỏ thống nhất cao với sự cần thiết ban hành Nghị quyết và việc tiếp tục áp dụng 08 nhóm cơ chế, chính sách đặc thù đã được Quốc hội cho phép thực hiện đối với một số dự án quan trọng quốc gia.

Đối với Chính sách 9: Bồi thường, hỗ trợ, tái bố trí đối với doanh nghiệp bị thu hồi đất sản xuất, điều doanh nghiệp lo ngại nhất là bị gián đoạn hoạt động, việc địa phương chủ động chuẩn bị mặt bằng sạch, có đầy đủ hạ tầng kỹ thuật để tái bố trí cơ sở sản xuất sẽ giúp rút ngắn thời gian khôi phục hoạt động, bảo vệ việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, nếu không có các tiêu chí định lượng rõ ràng về điều kiện doanh nghiệp được tái bố trí, có thể sẽ phát sinh cơ chế “xin – cho”, tạo sự không bình đẳng giữa các doanh nghiệp, gia tăng khiếu kiện và tiềm ẩn nguy cơ thất thoát tài sản nhà nước.
Đối với Chính sách 10: Cho phép cơ quan chủ quản (Bộ trưởng Bộ Xây dựng hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh) quyết định hoặc điều chỉnh hình thức đầu tư của các dự án thành phần. Chính sách này tạo sự chủ động và linh hoạt cho cơ quan quản lý trong bối cảnh thị trường tài chính biến động. Tuy nhiên, chính sách cũng có thể làm chuyển rủi ro tài chính từ khu vực tư nhân sang ngân sách nhà nước. Việc dễ dàng chuyển sang đầu tư công có thể tạo tâm lý ỷ lại, ảnh hưởng đến kế hoạch đầu tư công trung hạn đã được phê duyệt.
Do vậy, đối với 02 chính sách mới nêu trên, đề nghị bổ sung các tiêu chí, điều kiện áp dụng hoặc giao Chính phủ quy định cụ thể. Chẳng hạn, việc chuyển từ PPP sang đầu tư công chỉ được thực hiện sau khi dự án đã 02 lần tổ chức đấu thầu công khai nhưng không lựa chọn được nhà đầu tư; đối với chính sách tái bố trí doanh nghiệp, có thể xem xét áp dụng khi doanh nghiệp bị thu hồi từ 50% diện tích đất sản xuất trở lên hoặc phần diện tích còn lại không đủ điều kiện để tiếp tục vận hành.
Ngoài ra, về phạm vi áp dụng các cơ chế, chính sách đối với các dự án hạ tầng giao thông tương tự trên cả nước. Hiện nay, Quốc hội phải liên tục ban hành các nghị quyết thí điểm hoặc nghị quyết quy định cơ chế, chính sách đặc thù cho từng dự án quan trọng quốc gia. Cách tiếp cận này, cần thiết để xử lý các yêu cầu cấp bách, nhưng về lâu dài có thể tạo ra sự khác biệt về thể chế giữa các địa phương và làm gia tăng tính phức tạp, phân mảnh của hệ thống pháp luật. Vì vậy, việc mở rộng các cơ chế, chính sách đã được thí điểm và chứng minh hiệu quả đối với các dự án có quy mô tương tự trên phạm vi cả nước là yêu cầu cần được xem xét từ thực tiễn phát triển.
Ví dụ tại Đắk Lắk, có 02 tuyến cao tốc đã được Chính phủ, Bộ Xây dựng quan tâm bổ sung vào quy hoạch giai đoạn 2026 - 2030 là tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Tây (CT02) kết nối Gia Lai - Đắk Lắk - Lâm Đồng và tuyến cao tốc Phú Yên - Đắk Lắk (CT23). Nếu được áp dụng các cơ chế đặc thù tương tự Dự án Vành đai 5, việc triển khai các dự án này sẽ thuận lợi hơn nhiều, cụ thể
Đối với cao tốc Bắc - Nam phía Tây (CT02), chỉ tính việc được áp dụng 03 cơ chế gồm: di dời đường điện cao thế của EVN (Chính sách 3), chuyển đổi mục đích sử dụng rừng (Chính sách 5) và chỉ định thầu (Chính sách 6), thời gian chuẩn bị đầu tư có thể rút ngắn từ 12 - 18 tháng, góp phần sớm hoàn thành trục kết nối quan trọng của toàn vùng Tây Nguyên.
Đối với cao tốc Phú Yên - Đắk Lắk (CT23), tỉnh Đắk Lắk đã thống nhất định hướng triển khai theo hình thức đối tác công tư (PPP). Chỉ tính riêng áp dụng cơ chế khai thác quỹ đất và cơ chế linh hoạt chuyển đổi hình thức đầu tư, tỉnh có thể chủ động huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân, đồng thời có phương án dự phòng để chuyển sang đầu tư công khi thị trường vốn PPP gặp khó khăn, góp phần bảo đảm tiến độ khởi công dự kiến trong năm 2027 và tiến độ hoàn thành toàn tuyến.
Từ những phân tích trên, đại biểu kiến nghị Quốc hội xem xét ban hành một Nghị quyết khung về “Cơ chế, chính sách đặc thù phát triển hạ tầng giao thông trọng điểm giai đoạn 2026 - 2030”, trong đó cho phép áp dụng 10 nhóm chính sách nêu trên đối với các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm, dự án có tính chất liên kết vùng và dự án quan trọng quốc gia đáp ứng các tiêu chí, điều kiện được quy định.
Đồng thời, đề nghị khẩn trương nghiên cứu luật hóa những chính sách thí điểm hoặc đặc thù đã được thực tiễn chứng minh hiệu quả vào Luật Đầu tư công, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Lâm nghiệp,… trong kỳ họp Quốc hội gần nhất, nhằm hoàn thiện và thống nhất hệ thống pháp luật.
Phòng Công tác Quốc hội