Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh thảo luận tại Tổ về các dự án Luật
Ngày đăng: 05/08/2026 18:22
Hôm nay: 0
Hôm qua: 0
Trong tuần: 0
Tất cả: 0
Ngày đăng: 05/08/2026 18:22
Tiếp tục Chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng ngày 05/8/2026, Quốc hội thảo luận Tổ về dự án Luật Dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Tại buổi thảo luận Tổ, các vị đại biểu thuộc Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Lắk tham gia thảo luận, góp ý sôi nổi nhiều nội dung cụ thể đối với các dự án Luật nêu trên.
Phát biểu góp ý đối với dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi), đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt, Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh bày tỏ sự thống nhất cao với sự cần thiết phải sửa đổi Luật nhằm đưa các quy định sát hơn với thực tế địa phương, đồng thời góp ý một số nội dung:

Thứ hai, về căn cứ tiến hành hòa giải ở cơ sở (Điều 22), dự thảo quy định ba căn cứ tiến hành hòa giải gồm: theo yêu cầu của một hoặc các bên; hòa giải viên chủ động đề xuất khi chứng kiến hoặc biết vụ việc; theo phân công của tổ trưởng tổ hòa giải hoặc theo đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đại biểu cho rằng ba căn cứ này chưa thật sự thống nhất với bản chất của hoạt động hòa giải là phải dựa trên nguyên tắc tự nguyện, tự thỏa thuận và có sự đồng thuận của các bên. Đề nghị chỉnh lý quy định theo hướng: hòa giải viên có quyền chủ động phát hiện, đề xuất việc hòa giải khi biết vụ việc, nhưng việc tiến hành hòa giải chỉ được thực hiện khi các bên đồng ý tham gia hoặc có sự chấp thuận của các bên theo đúng nguyên tắc tự nguyện của hoạt động hòa giải.
Thứ ba, về giá trị và hiệu quả của kết quả hòa giải (Điều 28 và Điều 29), dự thảo đã quy định khá đầy đủ về trình tự, thủ tục lập biên bản và kết thúc việc hòa giải. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ hơn giá trị của biên bản hòa giải thành sau khi kết thúc quá trình hòa giải. Thực tế cho thấy, nhiều trường hợp các bên đã lập biên bản hòa giải thành nhưng sau đó một bên không thực hiện nội dung đã cam kết, dẫn đến tranh chấp tiếp tục phát sinh và phải chuyển sang cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Nếu chỉ dừng lại ở việc lập biên bản mà chưa làm rõ giá trị của biên bản này trong quá trình giải quyết tranh chấp sau đó thì hiệu quả của hoạt động hòa giải sẽ bị hạn chế. Vì vậy, đề nghị nghiên cứu quy định rõ hơn về việc biên bản hòa giải thành là một trong những nguồn tài liệu quan trọng để cơ quan có thẩm quyền xem xét khi giải quyết tranh chấp phát sinh sau này; đồng thời có cơ chế theo dõi, khuyến khích hoặc hỗ trợ việc thực hiện các nội dung mà các bên đã thống nhất trong biên bản hòa giải, qua đó nâng cao hiệu quả thực chất của công tác hòa giải ở cơ sở.
Cùng tham gia thảo luận, đại biểu Trần Quang Tâm, Đại tá, Phó Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đắk Lắk cũng bày tỏ sự đồng tình đối với việc sửa đổi Luật Hòa giải ở cơ sở lần này nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở. Dự thảo Luật đã kế thừa nhiều quy định còn phù hợp của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, đồng thời bổ sung nhiều nội dung mới đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động hòa giải và tăng cường bảo vệ bí mật thông tin cá nhân.

Thứ nhất, tại khoản 9 Điều 12 quy định về nghĩa vụ của hòa giải viên, đại biểu đề nghị bổ sung quy định theo hướng: hòa giải viên chỉ cung cấp tài liệu, thông tin liên quan làm căn cứ để Tòa án xem xét yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án khi có yêu cầu của Tòa án có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; đồng thời việc cung cấp thông tin phải bảo đảm nguyên tắc bảo vệ bí mật theo quy định của Luật này và các luật có liên quan. Quy định như vậy sẽ bảo đảm thống nhất với nguyên tắc giữ bí mật tại Điều 4, đồng thời tránh cách hiểu rằng hòa giải viên phải cung cấp toàn bộ thông tin có được trong quá trình hòa giải. Chỉ những thông tin phục vụ trực tiếp cho việc xem xét của Tòa án mới được cung cấp và vẫn phải bảo đảm yêu cầu bảo mật.
Thứ hai, tại Điều 20 về người được mời tham gia hòa giải, đề nghị bổ sung nghĩa vụ của chủ thể này nhằm gắn trách nhiệm với quá trình hòa giải. Cụ thể, đề nghị bổ sung hai nghĩa vụ: (1) Giữ bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, bí mật kinh doanh, bí mật nhà nước và các thông tin khác được pháp luật bảo vệ mà mình biết được trong quá trình tham gia hòa giải, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; (2) Không sử dụng các thông tin, tài liệu có được trong quá trình hòa giải vào mục đích khác; không áp đặt, gây sức ép hoặc làm ảnh hưởng đến quyền tự nguyện thỏa thuận của các bên.
Thứ ba, tại Điều 21 về xác nhận kết quả hòa giải, đại biểu cho rằng khoản 2 quy định các bên có nghĩa vụ ký tên, điểm chỉ hoặc xác nhận vào văn bản kết quả hòa giải là chưa thật sự thống nhất với nguyên tắc tự nguyện quy định tại Điều 4 cũng như quyền đồng ý, từ chối hoặc chấm dứt hòa giải của các bên. Mặt khác, khoản 2 Điều 28 đã dự liệu trường hợp có người không ký thì hòa giải viên ghi rõ lý do. Vì vậy, không nên quy định việc ký là nghĩa vụ bắt buộc. Đề nghị chỉnh lý theo hướng các bên ký tên, điểm chỉ hoặc xác nhận vào văn bản khi đồng ý với nội dung được ghi nhận; trường hợp không đồng ý thì không bắt buộc phải ký.
Thứ tư, tại điểm c khoản 1 Điều 29 về giá trị pháp lý của kết quả hòa giải thành, đề nghị chỉnh lý theo hướng: kết quả hòa giải thành là căn cứ để các bên tự nguyện thực hiện thỏa thuận; trường hợp có yêu cầu Tòa án công nhận thì giá trị pháp lý của kết quả hòa giải được xác định theo quyết định của Tòa án và quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Văn bản hòa giải thành ở cơ sở trước hết chỉ ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bên. Chỉ khi được Tòa án có thẩm quyền công nhận thì kết quả hòa giải mới phát sinh giá trị pháp lý theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Quy định rõ như vậy sẽ tránh cách hiểu rằng văn bản hòa giải thành ở cơ sở đương nhiên có giá trị pháp lý như bản án hoặc quyết định của Tòa án.
Tham gia góp ý dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản, đại biểu Đỗ Chí Nghĩa, Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho rằng người Việt Nam có thói quen ưu tiên sách giấy vì cảm giác việc chi trả để cầm trên tay một cuốn sách sẽ mang lại giá trị sở hữu thực tế hơn so với việc trả tiền để đọc trên nền tảng điện tử. Trong khi đó, tình trạng sách lậu vẫn khá phổ biến và khó kiểm soát.

Trong khi số lượng đầu sách rất lớn thì số bản in của mỗi đầu sách lại rất thấp, nhiều cuốn chỉ in vài trăm đến một nghìn bản. Điều này cho thấy quy mô thị trường còn nhỏ, doanh thu thấp và rất khó tạo động lực để ngành xuất bản phát triển bền vững. Đại biểu đề nghị nghiên cứu mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật theo hướng gắn xuất bản với truyền thông và phát hành. Hiện nay, hoạt động xuất bản không chỉ dừng lại ở việc biên tập, in và phát hành sách mà còn gắn chặt với truyền thông, quảng bá, xây dựng thương hiệu tác giả và phát triển thị trường. Tuy nhiên, dự thảo Luật mới chủ yếu điều chỉnh hoạt động xuất bản, chưa quan tâm đầy đủ đến các hoạt động truyền thông và phát hành trong chuỗi giá trị của ngành xuất bản. Nếu không có những quy định phù hợp thì rất khó tạo động lực để phát triển ngành theo hướng công nghiệp văn hóa.
Về quy định quảng cáo trong sách, theo quy định hiện hành, sách cơ bản không được quảng cáo, ngoại trừ việc giới thiệu các ấn phẩm của chính nhà xuất bản hoặc thông tin về tác giả. Đại biểu cho rằng cần nghiên cứu mở rộng theo hướng cho phép tài trợ đối với một số loại sách, nhất là sách lịch sử, sách văn hóa, sách thiếu nhi, sách khoa học và các tác phẩm có giá trị nhưng khó thu hồi vốn.
Về tiêu chuẩn, điều kiện đối với đội ngũ làm công tác xuất bản. Đại biểu đồng tình với việc quy định các tiêu chuẩn chung trong Luật. Tuy nhiên, những tiêu chuẩn chuyên sâu theo từng lĩnh vực, chẳng hạn biên tập sách ngoại văn, sách khoa học, sách pháp luật hoặc sách chuyên ngành, nên giao Chính phủ quy định chi tiết để bảo đảm tính linh hoạt, dễ cập nhật theo yêu cầu thực tiễn.
Kim Oanh