Đại biểu Quốc hội Đỗ Khắc Hưởng: Cần làm rõ khái niệm về tội phạm nguy hiểm
Ngày đăng: 12/08/2026 08:30
Hôm nay: 0
Hôm qua: 0
Trong tuần: 0
Tất cả: 0
Ngày đăng: 12/08/2026 08:30
Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, chiều nay (11/8), dưới sự điều hành Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Nghị quyết của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án.

Một là, tại điểm a khoản 1 Điều 2 dự thảo NQ quy định chỉ tiêu giảm số vụ phạm tội về trật tự xã hội. Đại biểu đề nghị chỉnh sửa quy định “phấn đấu giảm ít nhất 10% so với năm trước” thành “phấn đấu giảm 10% so với năm trước”. Chỉnh sửa như vậy để bảo đảm đúng chỉ đạo của Đảng tại Nghị quyết số 18 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và phù hợp với các quan điểm chỉ đạo xây dựng NQ nêu tại Tờ trình của UBTVQH, bảo đảm tính khả thi của chỉ tiêu được giao.
Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, hiện nay các lực lượng trực tiếp thực hiện công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm đang rất nỗ lực, quyết tâm thực hiện các biện pháp để kéo giảm các loại tội phạm nhưng kết quả mới đang dần tiệm cận và chưa bền vững đạt giảm số vụ phạm tội về trật tự xã hội như chỉ đạo của Đảng tại Nghị quyết số 18. Do vậy, quy định chỉ tiêu như trong Nghị quyết số 18 đã là chỉ tiêu cao và mới được đề ra. Nếu quy định chỉ tiêu cao quá khả năng thi hành sẽ gây áp lực không tích cực đối với cơ quan thực hiện và có thể dẫn đến việc báo cáo kết quả thực hiện và kết quả giám sát, đánh giá không sát với thực tế, ảnh hưởng đến niềm tin và tạo sự căng thẳng giữa cơ quan thực hiện và cơ quan giám sát.

Quy định như phương án 2 vừa bảo đảm tạo ra áp lực tích cực đối với cơ quan thực hiện, phù hợp với thực tiễn, bảo đảm tính khả thi; đồng thời, thể hiện yêu cầu ngặt nghèo trong quản lý giam giữ và bảo đảm tính chính xác của kết quả báo cáo và giám sát.
Theo phương án 1, chỉ áp dụng chỉ tiêu đối với trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân trốn khỏi nơi giam giữ khi nguyên nhân là do thiếu trách nhiệm của cơ sở giam giữ, tức là do nguyên nhân chủ quan từ cơ quan, người thực hiện công tác giam giữ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều vụ việc người bị giam giữ trốn khỏi nơi giam giữ là do cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan và nhiều trường hợp khó có thể xác định rạch ròi là do nguyên nhân nào. Mặt khác, phương án 1 chỉ tính những vụ việc do thiếu trách nhiệm, tức là do lỗi vô ý là chưa toàn diện. Do vậy, theo đại biểu Hưởng, việc lựa Phương án 2 là phù hợp.
Ba là, tại điểm đ khoản 2 Điều 2; điểm đ khoản 1 và điểm e khoản 2 Điều 3, điểm a khoản 2 Điều 4 quy định nhiệm vụ tăng cường đấu tranh phòng, chống tội phạm, truy tố, thực hành quyền công tố, xét xử đối với các vụ án liên quan đến tội phạm nguy hiểm.
Bộ Luật Hình sự và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành không có khái niệm tội phạm nguy hiểm. Trong phân loại tội phạm không có loại tội phạm này nên thực tế thi hành Nghị quyết số 96 thời gian qua, các cơ quan chức năng gặp khó khăn do không xác định được cụ thể là những tội phạm nào để thực hiện cho đúng, để thống kê báo cáo và đề giám sát việc thi hành. Do vậy, đề nghị sửa lại là tôi phạm đặc biệt nghiêm trọng. Quy định như vậy sẽ đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, đúng tinh thần của NQ, phù hợp với quy định của Bộ Luật Hình sự và bảo đảm tính khả thi.
Đồng thời, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo rà soát lại các điểm, khoản nêu trên để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của các quy định vì cùng điều chỉnh về một vấn đề nhưng hiện còn có một số nội dung khác nhau.
Bốn là, khoản 1 Điều 1 quy định về phạm vi điều chỉnh của NQ, có quy định về giám sát thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ quy định tại NQ và khoản 3 Điều 7 quy định về trách nhiệm của các chủ thể giám sát trong thực hiện NQ. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 1 không quy định các chủ thể thực hiện quyền giám sát là đối thượng áp dụng của NQ. Theo đó, cần nghiên cứu, chỉnh lý hoàn thiện hơn.
Năm là, điểm c khoản 1 Điều 6 quy định Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm kịp thời giải quyết bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Hiện nay, ngoài Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, còn có một số luật khác cũng có quy định về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, như Luật Tố cáo, Luật Thanh tra, Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý thuế,… Do vậy, đề nghị nghiên cứu đề chỉnh lý cho phù hợp.
Phòng Công tác Quốc hội