Cần có cơ chế kiểm soát tác động môi trường liên tỉnh, liên lưu vực
Ngày đăng: 26/10/2026 09:31
Hôm nay: 0
Hôm qua: 0
Trong tuần: 0
Tất cả: 0
Ngày đăng: 26/10/2026 09:31
Sáng 24/10/2026, Quốc hội thảo luận ở tổ về các dự án luật: dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi); dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư. Thảo luận tại Tổ số 14, các đại biểu thuộc Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk đã đóng góp nhiều ý kiến trách nhiệm, sát với thực tiễn.
Tham gia góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, đại biểu Lê Đào An Xuân, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh đề nghị làm rõ khái niệm “đi vào vận hành chính thức” tại khoản 20 Điều 1 để thống nhất với các luật liên quan đã thông qua, tránh xung đột với giai đoạn “vận hành thử nghiệm”. Theo đại biểu, tại khoản 20 Điều 1 dự thảo chỉ quy định dự án phát sinh nước thải, khí thải phải xử lý khi “đi vào vận hành”; trong khi luật sửa đổi 15 luật đối với lĩnh vực nông nghiệp và môi trường vừa thông qua lại dùng cụm từ “đi vào vận hành chính thức”. Do đó, cần quy định rõ ràng ranh giới với giai đoạn “vận hành thử nghiệm” để thống nhất thực hiện giữa các văn bản quy phạm pháp luật.

Về các dự án trong cụm công nghiệp, đại biểu đề xuất cần có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tự đầu tư hệ thống xử lý môi trường trong bối cảnh ngân sách địa phương còn hạn hẹp.
Bên cạnh đó, đại biểu Lê Đào An Xuân kiến nghị tại khoản 13 Điều 1 cần bổ sung cụm từ “trừ trường hợp thay đổi không làm phát sinh thêm vấn đề môi trường của dự án đầu tư cần xem xét, nhận dạng” nhằm tránh việc các cơ quan thanh tra, điều tra máy móc yêu cầu lập lại báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) khi dự án điều chỉnh chủ trương đầu tư mà không làm tăng tác động xấu.
Đại biểu nhấn mạnh cần cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, theo đó đối với các cơ sở chủ động đầu tư, nâng cấp công nghệ giúp giảm tải lượng ô nhiễm mà không tăng công suất hay phát sinh chất thải mới thì nên miễn cấp lại giấy phép môi trường, chuyển sang cơ chế doanh nghiệp tự công bố, cam kết và cơ quan quản lý thực hiện hậu kiểm.
Đại biểu cũng đề nghị rà soát tinh giản sự trùng lặp giữa ĐTM và giấy phép môi trường, đồng thời nghiên cứu cơ chế thuê tư vấn kỹ thuật thẩm định ĐTM đối với các dự án lớn, phức tạp để giảm tải và bù đắp thiếu hụt chuyên môn kỹ thuật sâu của bộ máy hành chính địa phương.
Góp ý về dự thảo luật, đại biểu Nguyễn Hoàng Giang, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo cho rằng, quy trình cấp giấy phép môi trường hiện nay còn rườm rà, nhiều tầng nấc, dễ phát sinh tiêu cực, làm mất thời gian của tổ chức, cá nhân, kể cả những cơ sở quy mô nhỏ như trang trại chăn nuôi. Giải pháp căn cơ là cần công khai, minh bạch toàn bộ quy trình, đẩy mạnh cấp phép trực tuyến qua môi trường mạng và hoàn thiện quy định tại khoản 3a Điều 42 để siết chặt công tác thanh tra, hậu kiểm, xử lý nghiêm tình trạng cơ sở đã có giấy phép nhưng vẫn xả thải gây ô nhiễm.

Đồng tình với sự cần thiết sửa đổi luật, đại biểu Lương Minh Tùng, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Bí thư Tỉnh Đoàn đóng góp ý kiến về thẩm quyền thẩm định ĐTM, cấp giấy phép môi trường và cơ chế vận hành thị trường carbon. Đại biểu cho rằng chủ trương phân cấp mạnh mẽ cho địa phương là hoàn toàn đúng đắn nhưng phải đi liền với cơ chế kiểm soát tác động môi trường liên tỉnh, liên lưu vực. Đại biểu đề nghị bổ sung tiêu chí phân định thẩm quyền tại Điều 35 và Điều 41; đồng thời quy định bắt buộc tham vấn các địa phương chịu ảnh hưởng, gắn liền với chia sẻ dữ liệu và hậu kiểm để tránh nghịch lý dự án đặt ở một nơi nhưng ô nhiễm lan sang nhiều tỉnh.

Tham gia đóng góp ý kiến đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, đại biểu Ngô Trung Thành, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội đề nghị cân nhắc kỹ lưỡng đề xuất bổ sung khoản 3a vào Điều 8 về việc giao Chính phủ quyết định nới lỏng các điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài trong các ngành nghề hạn chế tiếp cận.
Theo đại biểu Ngô Trung Thành, quy định này chưa bảo đảm nguyên tắc phân định rành mạch giữa thẩm quyền lập pháp của Quốc hội và thẩm quyền lập quy của Chính phủ. Việc nới lỏng điều kiện vốn được đặt ra để bảo đảm an ninh, quốc phòng bản chất là sửa đổi luật, làm mâu thuẫn trực tiếp với các nguyên tắc đang được thảo luận trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật. Trường hợp thực sự cần thiết phân cấp linh hoạt, đại biểu kiến nghị nên giao thẩm quyền này cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định để vừa bảo đảm tính kịp thời vừa giữ vững kỷ cương lập pháp.
Bên cạnh đó, đại biểu Ngô Trung Thành chỉ rõ mâu thuẫn về thời điểm áp dụng liên quan đến chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt. Dự thảo quy định dự án cấp trước ngày luật gốc có hiệu lực (ngày 1/3/2026) thì không áp dụng quy định mới, nhưng dự thảo luật sửa đổi này lại dự kiến có hiệu lực từ ngày 31/3/2027. Điều này tạo ra một khoảng trống pháp lý khó áp dụng đối với các dự án được cấp phép trong giai đoạn chuyển tiếp từ ngày 1/3/2026 đến ngày 31/3/2027. Đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo cần rà soát kỹ lưỡng và đưa nội dung này vào điều khoản chuyển tiếp để không tạo bất cập khi thực hiện.
Đồng thời, đại biểu Ngô Trung Thành đề nghị làm rõ cơ sở quy định ngày hiệu lực thi hành của luật là 31/3/2027. Bởi lẽ, việc sửa đổi lần này nhằm luật hóa các cơ chế, chính sách thí điểm tại Nghị quyết 66.18 và Nghị quyết 66.25 của Chính phủ, vốn sẽ hết hiệu lực vào ngày 28/2/2027. Do đó, để bảo đảm tính tiếp nối liên tục các quy định, không tạo ra khoảng trống pháp lý trong một tháng giao thời, đại biểu đề nghị điều chỉnh thời điểm có hiệu lực của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư bắt đầu từ ngày 1/3/2027.
Phòng Công tác Quốc hội