Cần chuyển đổi tư duy quản lý xuất bản trong thời đại trí tuệ nhân tạo
Ngày đăng: 09/08/2026 22:38
Hôm nay: 0
Hôm qua: 0
Trong tuần: 0
Tất cả: 0
Ngày đăng: 09/08/2026 22:38
Bài đọc:
Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng ngày 9/8, các đại biểu thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản.
Phát biểu điều hành tại hội trường, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh cho rằng, sau hơn 13 năm thi hành, Luật Xuất bản năm 2012 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng cho hoạt động xuất bản, góp phần bảo đảm quyền sáng tạo, phổ biến tác phẩm, cung cấp tri thức và thông tin cho xã hội. Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới của thực tiễn, nhất là sự phát triển nhanh của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, sự thay đổi của phương thức sáng tạo, sản xuất, phát hành và tiếp cận xuất bản phẩm, một số quy định của luật đã bộc lộ những hạn chế bất cập cần được sửa đổi, bổ sung.


Từ đó, đại biểu Bế Trung Anh đề nghị 3 chuyển đổi:
Thứ nhất, chuyển từ quản lý một "giấy xuất bản phẩm" sang quản trị vòng đời và độ tin cậy của một "sản phẩm tri thức". Dự thảo đã đề cập đến AI ở Điều 7, và đây là một bước tiến. Và theo đại biểu, nếu chỉ coi AI là một công nghệ được ứng dụng trong hoạt động xuất bản thì chưa đủ. AI đang làm thay đổi quá trình hình thành và xuất bản phẩm, chưa kể là các định nghĩa của xuất bản đã được thay đổi. Một nhà khoa học, một bác sĩ, một kỹ sư, một giáo viên hay là một nghệ nhân người dân tộc thiểu số có tri thức bản địa thì họ hoàn toàn có thể sử dụng AI để hệ thống hóa kinh nghiệm, xây dựng bản thảo, hiệu đính, dịch thuật, tạo âm thanh, hình ảnh và phổ biến sản phẩm với chi phí rất là thấp.
Vì vậy, đại biểu đề nghị đến Điều 4 và nhóm quy định về xuất bản điện tử cần nhận diện rõ hơn sản phẩm xuất bản số, nội dung có AI tham gia, phiên bản nguồn gốc và khả năng truy xuất trách nhiệm của con người đối với sản phẩm cuối cùng. AI có thể hỗ trợ sáng tạo nhưng không thể là nơi chuyển giao trách nhiệm pháp lý. Trong thời đại AI thì xã hội có thể không còn thiếu nội dung, nhưng mà thứ ngày càng khan hiếm chính là những tri thức đáng tin cậy. Và vì vậy, đây trở thành một chức năng quan trọng của Luật Xuất bản.
Thứ hai, cần biến khái niệm "hạ tầng tri thức quốc gia" ở Điều 3 trở thành một thiết chế thực sự vận hành được. Mỗi nhà khoa học, một chuyên gia, giáo viên, nghệ nhân hay người lao động có kinh nghiệm đều có thể là một khối tri thức. Một xã hội học tập không chỉ cần đưa tri thức từ kho sách hay thư viện đến họ, mà xã hội ấy còn phải có khả năng học được ngược trở lại từ chính những con người của xã hội.
Đại biểu đề nghị luật nên đặt nền móng cho một hạ tầng xuất bản, trong đó sản phẩm tri thức có mã định danh, metadata chuẩn, lưu trữ điện tử, truy xuất nguồn gốc và phiên bản, có khả năng kết nối phù hợp giữa nhà xuất bản với thư viện, trường đại học, viện nghiên cứu, các nền tảng số và chủ thể tạo lập tri thức. Và đây cũng chính là cách biến yêu cầu của Chỉ thị 04 trở về với cơ sở dữ liệu xuất bản, AI và dữ liệu lớn; và mô hình xuất bản số trở thành một cấu trúc pháp lý thay vì chỉ là một chính sách khuyến khích.
Thứ ba, cần nhìn nhận lại chủ thể của hệ sinh thái xuất bản. Điều này là một hệ quả tất yếu khi thực hiện Điều 3 của dự luật: "Xuất bản là hạ tầng tri thức quốc gia".
Đại biểu Bế Trung Anh nhấn mạnh, câu chuyện này không đơn giản là chúng ta cho phép cá nhân tự xuất bản hay không. Về mặt công nghệ thì khả năng ấy đã tồn tại. AI và nền tảng số đang chuyển rất nhiều năng lực trước đây mà chỉ một tổ chức xuất bản mới có thể làm được - đó là biên tập, dịch thuật, thiết kế, xuất bản, phân phối - về phía các cá nhân. Công nghệ đã trả lời câu hỏi cá nhân có khả năng xuất bản hay không, và luật pháp có phải trả lời một câu hỏi khác là: Đưa khả năng ấy vào một trật tự trách nhiệm như thế nào? Vì vậy, tại Điều 12 và Điều 23, các quy định có liên quan, đại biểu đề nghị nghiên cứu công nhận các cá nhân là một chủ thể trong hệ sinh thái xuất bản…
Phòng Công tác Quốc hội