Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk kiến nghị tháo gỡ điểm nghẽn, nâng cao hiệu quả nguồn lực các Chương trình mục tiêu quốc gia
Ngày đăng: 19/08/2026 17:56
Hôm nay: 0
Hôm qua: 0
Trong tuần: 0
Tất cả: 0
Ngày đăng: 19/08/2026 17:56
Sáng 19/8/2026, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu Quốc hội tiến hành thảo luận tại Tổ về một số dự án luật và phương án tích hợp các Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG). Tại Tổ thảo luận số 16, các đại biểu thuộc Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk đã tham gia nhiều ý kiến tâm huyết, sát thực tiễn, tập trung vào những vấn đề liên quan trực tiếp đến phân bổ nguồn lực, phân cấp, phân quyền và hiệu quả triển khai chính sách tại địa phương.

Đại biểu Nguyễn Hoàng Giang, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo phát biểu thảo luận tại Tổ 16
Phát biểu tại phiên thảo luận, đại biểu Nguyễn Hoàng Giang, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo cho rằng, các CTMTQG thời gian qua đã mang lại những kết quả tích cực, nhất là đối với vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Việc tích hợp các chương trình trong giai đoạn 2026-2030 là chủ trương lớn, tạo bước chuyển quan trọng trong phương thức quản trị và sử dụng nguồn lực.
Từ thực tiễn triển khai tại địa phương, đại biểu Nguyễn Hoàng Giang đề nghị việc tích hợp phải được thực hiện thực chất, tránh “bình mới, rượu cũ”; không chỉ hợp nhất về mặt tổ chức mà phải thống nhất về mục tiêu, cơ chế vận hành, phương thức triển khai, tiêu chí và đối tượng thụ hưởng. Đại biểu chỉ rõ, thời gian qua vẫn còn tình trạng chồng chéo về đối tượng, kinh phí và phương thức thực hiện giữa các chương trình; do đó, việc tích hợp cần tạo ra sự thay đổi căn bản, khắc phục tình trạng phân tán, manh mún.
Một vấn đề được đại biểu đặc biệt quan tâm là giải ngân, nguồn vốn và tỷ lệ đối ứng. Theo đại biểu, giai đoạn 2021-2025, tỷ lệ giải ngân nguồn vốn CTMTQG mới đạt trên 78%; trong đó, việc phân bổ vốn và quy trình thực hiện còn nhiều bất cập. Đại biểu đề nghị đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho cấp cơ sở, hạn chế tầng nấc trung gian; các sở, ngành tập trung thực hiện chức năng định hướng, kiểm tra, giám sát và hỗ trợ.
Đối với tiêu chí phân bổ nguồn lực, đại biểu cho rằng quy định ưu tiên đối với các địa phương nhận bổ sung cân đối từ ngân sách Trung ương từ 70% trở lên có thể gây khó khăn cho nhiều tỉnh còn nghèo. Đắk Lắk hiện nhận bổ sung cân đối khoảng 50%, trong khi nhiều xã khu vực III, xã đặc biệt khó khăn có nguồn thu ngân sách rất thấp, khó có khả năng bố trí vốn đối ứng. Vì vậy, đại biểu kiến nghị nghiên cứu điều chỉnh ngưỡng ưu tiên xuống 50% trở lên, hoặc xây dựng tiêu chí ưu tiên trực tiếp theo địa bàn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và biên giới.
Bên cạnh đó, đại biểu Giang đề nghị chính sách dành cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phải thực sự mang tính đặc thù, tập trung vào các vấn đề thiết yếu như đất ở, nhà ở, đất sản xuất, chuyển đổi nghề, nước sinh hoạt, bố trí ổn định dân cư, phát triển sinh kế gắn với điều kiện tự nhiên và văn hóa bản địa.
Về cơ chế điều phối, đại biểu đề nghị thu gọn đầu mối quản lý, nghiên cứu giao một cơ quan thường trực duy nhất giúp việc cho Ban Chỉ đạo ở Trung ương và cấp tỉnh; đồng thời phân cấp, phân quyền phải gắn với nguồn lực, năng lực thực thi và trách nhiệm giải trình. Đặc biệt, việc áp dụng chế tài cắt giảm vốn do chậm giải ngân cần phân biệt nguyên nhân chủ quan và khách quan, tránh tình trạng địa phương càng khó khăn lại càng bị cắt giảm nguồn lực.
Đối với Đắk Lắk, đại biểu Nguyễn Hoàng Giang cho biết dự kiến tổng vốn các CTMTQG phân bổ trên địa bàn hơn 8.000 tỷ đồng, trong khi địa bàn rộng, dân số đông, số lượng xã đặc biệt khó khăn và xã vùng dân tộc thiểu số, miền núi lớn. Do đó, đại biểu đề nghị Quốc hội, Chính phủ quan tâm, tạo cơ chế linh hoạt để các địa phương miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số có điều kiện thực hiện hiệu quả mục tiêu giảm nghèo bền vững.

Tham gia góp ý về dự án Luật Đầu tư công sửa đổi và Luật Ngân sách nhà nước sửa đổi, đại biểu Lê Đào An Xuân, Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh bày tỏ thống nhất cao với việc hợp nhất các dự án luật, đồng thời đề nghị tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định nhằm tăng cường phân cấp, phân quyền và nâng cao tính chủ động của địa phương.
Đối với thẩm quyền giữa HĐND và UBND cấp tỉnh, đại biểu chỉ ra một số quy định tại Điều 50 và Điều 54 chưa thật sự thống nhất. Đại biểu đề nghị thiết kế theo hướng HĐND quyết định tổng mức chi đầu tư, cơ cấu theo lĩnh vực hoặc những dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư; UBND tỉnh được chủ động phân bổ chi tiết trong tổng mức đã được HĐND phê duyệt và kịp thời báo cáo HĐND tại kỳ họp gần nhất. Cách tiếp cận này sẽ góp phần rút ngắn thời gian giao vốn và nâng cao tính chủ động trong điều hành.
Về sử dụng vốn dự phòng đầu tư công trung hạn, đại biểu cho rằng quy định chỉ được xem xét sử dụng sau khi đánh giá giữa kỳ là khá cứng nhắc. Thực tiễn tại Đắk Lắk cho thấy thiên tai có thể phát sinh ngay trong những năm đầu của kỳ đầu tư, đòi hỏi phải có nguồn lực để triển khai các dự án cấp bách. Vì vậy, cần bổ sung những trường hợp ngoại lệ nhằm bảo đảm tính linh hoạt trong điều hành vốn.
Đại biểu cũng đề nghị quy định rõ tỷ lệ điều chỉnh giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên; đồng thời rà soát sự thống nhất giữa các quy định về điều chỉnh chủ trương đầu tư, điều chỉnh dự án để tránh khoảng trống pháp lý, cách hiểu khác nhau trong quá trình thực hiện. Bên cạnh đó, đại biểu góp ý hoàn thiện kỹ thuật lập pháp và cách giải thích khái niệm “Dự án đầu tư công đặc biệt” nhằm bảo đảm phù hợp với chức năng, thẩm quyền của các cơ quan nhà nước.

Góp ý về Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa, xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035, đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt, Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh thống nhất với chủ trương tích hợp các CTMTQG, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu thực hiện theo tinh thần “6 rõ và 1 xuyên suốt”, bảo đảm tránh chồng chéo, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm và sử dụng hiệu quả nguồn lực.
Theo đại biểu, tích hợp không đồng nghĩa với việc cộng gộp cơ học các chương trình. Nếu chỉ gộp về mặt tổ chức, trong khi mục tiêu, chính sách và hiệu quả thực hiện không được nâng lên thì chưa đạt yêu cầu. Đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu lại tên gọi của Chương trình và Nghị quyết, bởi tên gọi hiện nay có phạm vi quá rộng, có thể làm mờ đi những mục tiêu trọng tâm của từng chương trình trước đây.
Đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt cũng cho rằng dự thảo cần được thiết kế theo hướng tích hợp thực chất về chính sách, thay vì chủ yếu hợp nhất về tổ chức và cộng dồn các chỉ tiêu. Trong đó, cần xác định rõ những trụ cột chiến lược hướng tới phát triển con người toàn diện, nâng cao sức khỏe, chất lượng giáo dục và thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền.
Đối với hệ thống mục tiêu, chỉ tiêu, đại biểu đề nghị không đưa quá nhiều chỉ tiêu kỹ thuật, chuyên ngành vào Nghị quyết mà tập trung vào những chỉ tiêu lớn, trọng tâm, có tác động trực tiếp đến chất lượng đời sống người dân. Đồng thời, cần bảo đảm tính liên tục của nguồn lực trong cả giai đoạn 2026-2035, nhất là có cơ chế chuyển tiếp rõ ràng đối với các dự án, mục tiêu đang triển khai dở dang từ giai đoạn 2026-2030 sang giai đoạn 2031-2035.

Đại biểu Bế Trung Anh Ủy viên là ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ban Công tác đại biểu của Quốc hội, ĐBQH tỉnh Đắk Lắk cho rằng, việc hợp nhất các CTMTQG là phù hợp với yêu cầu đổi mới phương thức quản lý, nhất là trong bối cảnh chuyển đổi số và khả năng liên kết dữ liệu giữa các ngành ngày càng được nâng cao. Theo đại biểu, thay vì tiếp cận theo từng lĩnh vực riêng lẻ, cần hướng tới một con người cụ thể, một cộng đồng, một địa phương hoặc một vùng cụ thể để tạo ra sự phát triển bền vững.
Đại biểu nhấn mạnh yêu cầu tránh tư duy “cộng gộp cơ học”, phải tạo ra sự cộng hưởng. Việc hợp nhất không nên chỉ dừng ở việc gom các chương trình thành một chương trình lớn hơn, mà phải tạo ra những kết quả mới, có giá trị cao hơn tổng các chương trình riêng lẻ.
Từ đó, đại biểu đề xuất nghiên cứu tên gọi theo hướng thể hiện rõ mục tiêu phát triển con người, cộng đồng và vùng bền vững; trong đó lấy con người, cộng đồng và vùng làm những trụ cột gắn kết giáo dục, y tế, văn hóa, sinh kế, dịch vụ công, hạ tầng, dân tộc thiểu số, miền núi và liên kết kinh tế.
Đại biểu Bế Trung Anh cũng lưu ý cần nhận thức đầy đủ hơn về bản chất của chuyển đổi số. Chuyển đổi số không chỉ là số hóa văn bản, báo cáo phục vụ quản trị, mà phải trở thành công cụ giúp người dân nâng cao năng lực, phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời giúp cơ quan quản lý hiểu dân, sát thực tiễn và đưa ra quyết sách chính xác hơn.
Đại biểu đề nghị tinh gọn cách thể hiện mục tiêu trong Nghị quyết, không nhất thiết đưa toàn bộ danh sách chỉ tiêu, sản phẩm chi tiết của các chương trình trước đây vào một văn bản. Thay vào đó, cần cô đọng mục tiêu theo hướng phát triển toàn diện con người, nâng cao năng lực tự phát triển của cộng đồng, thu hẹp thực chất chênh lệch giữa các vùng miền, phát huy nguồn lực nội sinh, bản sắc và lợi thế của từng địa phương, để người dân thực sự trở thành chủ thể của quá trình phát triển. Đồng thời, cần có điều khoản khung khẳng định việc kế thừa, tiếp tục thực hiện đầy đủ các mục tiêu, nhiệm vụ nền tảng của các chương trình giai đoạn trước, bảo đảm chính sách không bị gián đoạn.
Các ý kiến của đại biểu Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk tại phiên thảo luận thể hiện tinh thần trách nhiệm, bám sát thực tiễn địa phương, đồng thời tập trung vào những vấn đề cốt lõi trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật. Qua đó góp phần hoàn thiện các dự thảo, bảo đảm các chính sách sau khi được ban hành có tính khả thi cao, phát huy hiệu quả nguồn lực và hướng mạnh về cơ sở, nhất là đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và các địa bàn còn nhiều khó khăn.
Phòng Công tác Quốc hội