Đắk Lắk ban hành Nghị quyết về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên
Ngày đăng: 30/09/2026 20:56
Hôm nay: 0
Hôm qua: 0
Trong tuần: 0
Tất cả: 0
Ngày đăng: 30/09/2026 20:56
Ngày 10/9/2026, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TU về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới.

Bên cạnh kết quả đạt được, Nghị quyết cũng chỉ rõ năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức đảng còn hạn chế; chất lượng sinh hoạt cấp ủy, chi bộ có mặt chưa đáp ứng yêu cầu; công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, quản lý, rèn luyện và phát triển đảng viên chưa đồng đều. Việc chuyển đổi số trong công tác tổ chức xây dựng Đảng còn chậm; một bộ phận cán bộ, đảng viên ở cơ sở còn gặp khó khăn trong việc đáp ứng yêu cầu về kỹ năng tham mưu, xử lý công việc trên môi trường điện tử.
Nghị quyết xác định mục tiêu tiếp tục xây dựng tổ chức đảng ở cơ sở trong sạch, vững mạnh toàn diện, thực sự là hạt nhân chính trị, lãnh đạo toàn diện ở cơ sở; đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ theo hướng thực chất, hiệu quả. Cùng với đó là xây dựng đội ngũ cấp ủy viên, đảng viên có phẩm chất, năng lực, uy tín; nâng cao chất lượng công tác phát triển đảng viên và đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác tổ chức xây dựng Đảng.
Trong giai đoạn 2026–2030, Nghị quyết đặt mục tiêu 100% tổ chức đảng ban hành quy chế làm việc, quy chế phối hợp phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và mô hình tổ chức bộ máy mới. Hằng năm, có từ 90% tổ chức đảng và từ 90% đảng viên trở lên được đánh giá, xếp loại từ hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên. 100% chi bộ thực hiện nghiêm chế độ sinh hoạt định kỳ theo quy định và được đánh giá chất lượng sinh hoạt theo tiêu chí, chỉ số cụ thể.
Về phát triển đảng viên, Nghị quyết phấn đấu hằng năm kết nạp đảng viên đạt từ 3–4% so với tổng số đảng viên của đảng bộ; đồng thời xác định các chỉ tiêu phù hợp với từng loại hình, địa bàn, lĩnh vực. Đến năm 2030, phấn đấu có ít nhất 30% số doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đủ điều kiện thành lập tổ chức đảng được thành lập tổ chức đảng.
Đối với đội ngũ cấp ủy, Nghị quyết đặt mục tiêu 100% cấp ủy viên đảng bộ trực thuộc cơ sở và chi bộ được bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Đảng, cập nhật kiến thức mới ít nhất một lần trong nhiệm kỳ. Trong công tác quản lý đảng viên, 100% tổ chức đảng thực hiện quản lý, rà soát, sàng lọc và đánh giá thực chất chất lượng đảng viên hằng năm.
Chuyển đổi số là một trong những nội dung được Nghị quyết xác định bằng các chỉ tiêu cụ thể. Theo đó, 100% tổ chức đảng triển khai và sử dụng hiệu quả ứng dụng “Sổ tay đảng viên điện tử”; tỷ lệ thủ tục, nghiệp vụ công tác đảng được số hóa, thực hiện trên môi trường số đạt từ 80% trở lên; mức độ tham gia sinh hoạt, học tập trên môi trường số đạt từ 90% trở lên. Nghị quyết cũng đặt mục tiêu từng bước mở rộng mô hình “Đảng viên số, Chi bộ số, Đảng bộ số”, đến năm 2030 cơ bản hoàn thành.
Để thực hiện các mục tiêu trên, Nghị quyết đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp về giáo dục chính trị, tư tưởng; kiện toàn tổ chức đảng; xây dựng quy chế làm việc; đổi mới phương thức lãnh đạo; nâng cao chất lượng đội ngũ cấp ủy viên, đảng viên và chất lượng sinh hoạt chi bộ.
Trong xây dựng quy chế làm việc, Nghị quyết yêu cầu rà soát, sửa đổi, bổ sung và thực hiện nghiêm quy chế làm việc, quy chế phối hợp của cấp ủy, tổ chức đảng; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm và mối quan hệ công tác. Nghị quyết, chương trình, kế hoạch phải rõ việc, rõ người, rõ thời hạn và kết quả; gắn phân công nhiệm vụ với kiểm tra, đôn đốc, đánh giá kết quả thực hiện. Phương thức lãnh đạo được đổi mới theo hướng dân chủ, sát cơ sở, tăng cường trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu cấp ủy.
Đối với sinh hoạt chi bộ, Nghị quyết yêu cầu duy trì nghiêm nền nếp sinh hoạt định kỳ, nâng cao tính lãnh đạo, tính giáo dục, tính chiến đấu và tính phòng ngừa. Nội dung sinh hoạt phải cụ thể, thiết thực, dành thời gian thảo luận, giải quyết những vấn đề đặt ra ở địa phương, cơ quan, đơn vị. Mỗi chi bộ xây dựng kế hoạch sinh hoạt chuyên đề hằng năm ngay từ đầu năm, xác định rõ nội dung từng quý, người chuẩn bị, thời gian tổ chức, hình thức triển khai và sản phẩm sau sinh hoạt.
Nghị quyết cũng yêu cầu đổi mới việc đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng và đảng viên. Việc đánh giá gắn với kết quả hoàn thành nhiệm vụ, bảo đảm khách quan, công khai, minh bạch; tăng cường kiểm tra, thẩm định kết quả xếp loại và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, theo dõi, tổng hợp kết quả.
Trong công tác phát triển đảng viên, Nghị quyết nhấn mạnh việc xây dựng kế hoạch tạo nguồn hằng năm và cả nhiệm kỳ, quan tâm các địa bàn, lĩnh vực còn ít đảng viên; coi trọng chất lượng, tiêu chuẩn, phẩm chất và động cơ phấn đấu, không chạy theo số lượng. Công tác quản lý đảng viên tiếp tục được đổi mới theo hướng ứng dụng nền tảng số, gắn nhiệm vụ được phân công với đánh giá, xếp loại hằng năm và thực hiện nghiêm việc rà soát, sàng lọc đảng viên.
Cùng với các nhiệm vụ trên, Nghị quyết yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác Đảng; tăng cường kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng, chú trọng những lĩnh vực dễ phát sinh sai phạm và kịp thời phát hiện, xử lý vấn đề ngay từ cơ sở.
Về tổ chức thực hiện, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh yêu cầu các cấp ủy trực thuộc Tỉnh ủy tổ chức quán triệt, tuyên truyền, phổ biến sâu rộng Nghị quyết đến cán bộ, đảng viên; căn cứ mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết và tình hình thực tiễn để xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện phù hợp với địa phương, cơ quan, đơn vị. Nghị quyết được phổ biến đến chi bộ.
Dương Linh