Đắk Lắk thông qua chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026 – 2031
Ngày đăng: 23/10/2026 17:27
Hôm nay: 0
Hôm qua: 0
Trong tuần: 0
Tất cả: 0
Ngày đăng: 23/10/2026 17:27
Tại Kỳ họp chuyên đề lần thứ Ba, HĐND tỉnh Đắk Lắk khóa XI đã thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực của tỉnh giai đoạn 2026–2031. Với mức hỗ trợ ban đầu cao nhất 2 tỷ đồng/người cùng các chính sách về thu nhập, nhà ở và đào tạo, Nghị quyết tạo thêm điều kiện để tỉnh thu hút, phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 30/10/2026.
Ưu tiên nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực trọng điểm
Nghị quyết hướng đến thu hút nhân lực chất lượng cao làm việc tại các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc tỉnh; đồng thời hỗ trợ đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đang công tác tại các cơ quan, đơn vị.
Đối tượng thu hút gồm sinh viên tốt nghiệp xuất sắc; nhà khoa học trẻ tài năng, kỹ sư trẻ tài năng; chuyên gia, nhà quản lý, nhà quản trị doanh nghiệp, nhà khoa học đầu ngành là người Việt Nam hoặc người nước ngoài; nhân tài trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; chuyên gia khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đáp ứng các điều kiện theo quy định.
Các lĩnh vực ưu tiên gồm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; công nghiệp chế biến, chế tạo; kinh tế rừng, kinh tế biển; năng lượng tái tạo; logistics và quản lý chuỗi cung ứng; du lịch sinh thái, văn hóa, bản sắc; phát triển hạ tầng đô thị; xây dựng và hoàn thiện thể chế, pháp luật; giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; tài chính, đầu tư; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Căn cứ tình hình thực tiễn và định hướng phát triển của tỉnh, UBND tỉnh đề xuất, trình HĐND tỉnh xem xét, quyết định bổ sung các lĩnh vực ưu tiên thu hút theo thẩm quyền.
Hỗ trợ ban đầu cao nhất 2 tỷ đồng/người
Đối với người thuộc diện thu hút được tuyển dụng hoặc tiếp nhận vào làm công chức, viên chức, mức hỗ trợ ban đầu một lần được xác định theo trình độ chuyên môn, học hàm, học vị: đại học 500 triệu đồng; thạc sĩ 700 triệu đồng; tiến sĩ 1 tỷ đồng; phó giáo sư 1,5 tỷ đồng và giáo sư 2 tỷ đồng.
Bên cạnh khoản hỗ trợ ban đầu, người được thu hút còn được hưởng chính sách đối với công trình, đề án, đề tài nghiên cứu khoa học, giải pháp, sáng kiến, đổi mới sáng tạo trong kỹ thuật, công nghệ, chuyển đổi số từ cấp tỉnh và tương đương trở lên, có giá trị thực tiễn và được cơ quan có thẩm quyền công nhận.
Mức hưởng bằng 30% lợi nhuận hoặc giá trị quy đổi thành tiền từ việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Trường hợp không xác định được lợi nhuận hoặc giá trị quy đổi, mức hưởng bằng 5% tổng kinh phí ngân sách tỉnh chi trả cho công trình, tối đa không quá 500 triệu đồng/công trình. Nếu có nhiều người tham gia, khoản kinh phí này được phân chia theo tỷ lệ đóng góp; tổng mức hưởng của cả nhóm không vượt mức quy định.

Người được thu hút được bố trí công việc phù hợp với chuyên môn, năng lực; ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị, quản lý nhà nước, kiến thức chuyên ngành và được xem xét quy hoạch, bổ nhiệm theo quy định.
Thu hút chuyên gia theo hợp đồng lao động
Đối với hình thức ký kết hợp đồng lao động xác định thời hạn, mức hỗ trợ ban đầu tối đa là 500 triệu đồng/người, chỉ áp dụng một lần khi ký hợp đồng đầu tiên.
Mức tiền lương tối đa 100 triệu đồng/người/tháng, bao gồm tiền lương hằng tháng, phụ cấp kèm theo nếu có và các khoản đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, các loại bảo hiểm khác theo quy định của pháp luật.
Mức hỗ trợ và tiền lương cụ thể được đề xuất căn cứ yêu cầu công việc, năng lực, trình độ, kinh nghiệm, bằng sáng chế, sản phẩm và dự án của người được thu hút.
Người được thu hút theo hình thức này còn được hưởng các chính sách về thu nhập từ công trình nghiên cứu, hỗ trợ nhà ở, phương tiện đi lại và bố trí công việc phù hợp theo Nghị quyết. Trường hợp hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, có nguyện vọng tiếp tục cống hiến thì được xem xét ưu tiên tuyển dụng hoặc tiếp nhận vào vị trí việc làm phù hợp theo quy định của pháp luật.

Cùng với chính sách thu hút, Nghị quyết quy định hỗ trợ đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đang công tác tại các cơ quan, đơn vị thuộc tỉnh. Mức hỗ trợ đối với đào tạo trình độ đại học là 100 triệu đồng; thạc sĩ 200 triệu đồng; tiến sĩ 300 triệu đồng; đối với trường hợp được bổ nhiệm chức danh phó giáo sư là 500 triệu đồng và giáo sư là 700 triệu đồng.
Đối tượng được hỗ trợ gồm cán bộ, công chức, viên chức được cử đi đào tạo sau đại học trong các lĩnh vực ưu tiên; viên chức là giảng viên tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và Trường Chính trị tỉnh được cử đi đào tạo tiến sĩ hoặc được bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư.
Trường hợp không tuyển dụng hoặc tiếp nhận được người đảm nhận vị trí việc làm về công nghệ thông tin, cơ quan, đơn vị, địa phương có thể hỗ trợ công chức, viên chức học cử nhân văn bằng hai ngành hoặc chuyên ngành liên quan đến công nghệ thông tin theo quy định.
Để được hỗ trợ, người được cử đi đào tạo phải đáp ứng các điều kiện của Nghị quyết. Trong đó, phải có thời gian công tác đủ 3 năm kể từ ngày được tuyển dụng hoặc tiếp nhận; trong 3 năm liên tục liền kề trước thời điểm được cử đi đào tạo được đánh giá, xếp loại chất lượng từ hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên, có ít nhất 1 năm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Các điều kiện về thời gian công tác và kết quả đánh giá này không áp dụng đối với đối tượng học văn bằng hai ngành, chuyên ngành liên quan đến công nghệ thông tin theo quy định. Trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Độ tuổi tính từ ngày có văn bản cử đi học không quá 40 tuổi đối với đào tạo đại học, không quá 45 tuổi đối với đào tạo thạc sĩ và không quá 50 tuổi đối với đào tạo tiến sĩ; trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Chuyên ngành đào tạo phải phù hợp với vị trí việc làm và nhu cầu nhân lực của cơ quan, đơn vị. Người học phải hoàn thành chương trình, được cấp bằng trong thời gian quy định; kết quả đào tạo đại học, thạc sĩ phải đạt loại khá trở lên.
Người được hỗ trợ phải cam kết làm việc tại cơ quan, đơn vị sau khi hoàn thành chương trình học trong thời gian ít nhất gấp 3 lần thời gian đào tạo. Thời gian đào tạo được tính từ thời điểm nhập học đến khi được cấp bằng. Đối với người được bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư, thời gian cam kết làm việc tối thiểu là 5 năm kể từ ngày được bổ nhiệm.
Gắn quyền lợi với trách nhiệm thực hiện cam kết
Nghị quyết quy định trách nhiệm hoàn trả kinh phí nhằm bảo đảm chính sách được thực hiện đúng mục đích, gắn quyền lợi của người được hỗ trợ với trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ và thời gian cam kết làm việc.
Tùy trường hợp, người được hưởng chính sách phải hoàn trả toàn bộ hoặc một phần kinh phí đã nhận. Các trường hợp hoàn trả toàn bộ gồm vi phạm những điều kiện, cam kết thuộc diện phải hoàn trả theo Nghị quyết; tự ý bỏ việc; thôi việc hoặc chuyển ra ngoài hệ thống khi chưa làm đủ một nửa thời gian cam kết; bị đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ trong thời gian cam kết; sử dụng giấy tờ không hợp pháp và các trường hợp khác được quy định.
Trường hợp đã làm việc từ đủ một nửa thời gian cam kết trở lên nhưng xin thôi việc, chuyển ra ngoài hệ thống hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định thì hoàn trả kinh phí tương ứng với thời gian cam kết còn lại. Riêng khoản thu nhập từ lợi nhuận hoặc giá trị thương mại hóa công trình nghiên cứu phải hoàn trả toàn bộ theo quy định của Nghị quyết.
Thời hạn hoàn trả chậm nhất là 120 ngày kể từ ngày người có nghĩa vụ hoàn trả nhận được quyết định. Nghị quyết cũng quy định các trường hợp được miễn hoàn trả do chết, mất tích theo tuyên bố của Tòa án; mất khả năng lao động do tai nạn, thương tích hoặc bệnh hiểm nghèo có xác nhận theo quy định; cơ quan, đơn vị giải thể, sáp nhập không thể bố trí công việc phù hợp hoặc trường hợp bất khả kháng được cơ quan có thẩm quyền xác nhận, chấp thuận.
Việc thông qua Nghị quyết tạo cơ sở để Đắk Lắk triển khai chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao kết hợp đào tạo, phát triển đội ngũ hiện có, đáp ứng nhu cầu của các cơ quan, đơn vị và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh giai đoạn 2026–2031.
Ngọc Sơn